Văn mẫu lớp 9: Phân tích khổ 4 bài thơ Bếp lửa

Thông tin thêm về Văn mẫu lớp 9: Phân tích khổ 4 bài thơ Bếp lửa

Phân tích khổ 4 bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt mang đến dàn ý cụ thể, cùng 4 bài văn mẫu, giúp các em học trò lớp 9 tham khảo, củng cố vốn từ để viết bài văn phân tách hay hơn. Nhờ ấy, càng ngày càng học tốt môn Văn 9 hơn.

Khổ thơ thứ 4 trong bài thơ Bếp lửa, giúp chúng ta cảm nhận thâm thúy về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Cùng lúc, cũng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của người nữ giới giàu lòng vị tha, đức hi sinh. Mời các em cùng theo dõi bài viết dưới đây của Xgame:
Dàn ý phân tách khổ 4 bài thơ Bếp lửa
1. Mở bài:
– Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

Bằng Việt thuộc lứa tuổi thi sĩ trưởng thành trong phong trào kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông trong trẻo, mượt nhưng, khai thác những kỉ niệm đẹp và ước mong tuổi xanh.
Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác 5 1963 lúc tác giả là du học trò Liên Xô.
Giới thiệu đoạn trích: khổ 4 bài thơ

2. Thân bài:
Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu là (đoạn thơ 4):

Thành ngữ “cháy tàn cháy rụi”: đem lại cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Trên cái nền của sự tàn tàn phá diệt đấy là sự nuôi nấng, đùm bọc của thôn ấp đối với 2 bà cháu.Điều khiến cháu xúc động nhất là 1 mình bà già nua, bé nhỏ đã đương đầu để trải qua những 5 tháng gieo neo, đau buồn nhưng chẳng phải phàn nàn, ca cẩm. Bà mạnh bạo,bền chí trước hiện thực tàn khốc.Đặc trưng là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người nữ giới giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh.
Bà ko chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang tranh đấu nhưng còn là hậu phương chắc chắn cho cả tiền phương, góp phần ko bé vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Tình cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Quốc gia.

3. Kết bài:

Kết lại tình cảm gia đình là cơ sở chắc chắn để làm nền móng cho tình yêu quê hương non sông

Phân tích khổ 4 của bài thơ Bếp lửa – Mẫu 1
Bằng Việt làm thư từ đầu những 5 1960 và thuộc lứa tuổi các thi sĩ trưởng thành trong thời gian kháng chiến chống Mĩ. Thơ Bằng Việt, xúc cảm tinh tế, có giọng điệu tâm tĩnh trầm lắng, giàu suy tư, triết luận. Bài thơ “Bếp lửa” là bài thơ hoàn hảo của ông, được sáng tác 5 1963, lúc là sinh viên khoa pháp lí trường Đại học tổng hợp Ki-ép. Qua hồi ức, suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, cùng lúc trình bày lòng mến yêu trân trọng và hàm ân của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương non sông.
Có người nói người ta có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ chẳng thể tách quê hương ra khỏi con người Thật vậy. Dù đi đâu, ở đâu, người nào cũng nhớ về quê hương, nhớ về những kỉ niệm đã từng làm ấm lòng người, là điểm tựa ý thức để vươn lên nghịch cảnh.
Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng xúc cảm hồi ức của người cháu về người bà và bếp lửa quê hương. Mạch xúc cảm của bài thơ rất thiên nhiên, đi từ hồi ức tới hiện nay, từ kỉ niệm tới suy ngẫm: hình ảnh bếp lửa gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà 8 5 ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với bao khó nhọc và tình mến thương trìu mến dành cho đứa cháu; từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị nhưng cao quý của bà; rốt cục, người cháu muốn gửi niềm nhớ mong về bà.
Ở khổ thơ thứ 4, quang cảnh chiến tranh phát triển thành kinh khủng hơn, lúc giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi, để trơ khấc lại chỉ là những mảnh tro tàn. Những ký ức về bà phệ dần, phệ dần lan tỏa sang cả nỗi nhớ làng quê, nhớ non sông:
“5 giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Láng giềng 4 bên trở về lầm lũi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh: Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình an!”
Chiến tranh đã gây ra bao mất mát, đau thương mà chẳng thể nào xóa nhòa được tình làng, nghĩa xóm. Trong những ngày tháng xa quê những ký ức về những người thôn xóm đáng kính đã cùng 2 bà cháu đi qua hết những 5 tháng chiến tranh đang tuần tự hiện về trong tâm não của cháu. Lời căn dặn “Mày viết thư chớ kể này kể nọ/ Cứ bảo nhà vẫn được bình an!” cho thấy hình ảnh của 1 người nữ giới tảo tần, giàu tình thương. Dẫu trong tình cảnh nào bà vẫn bền chí để làm điểm tựa ý thức cho người cháu, làm hậu phương chắc chắn cho người con tranh đấu ngoài mặt trận….
Không phải trùng hợp nhưng ngay bắt đầu từ vừa mới có mặt trên thị trường cho tới tận bữa nay “Bếp lửa” vẫn luôn có chỗ đứng riêng của nó. Bằng những hình ảnh chân thật cùng tất cả tình cảm chân tình Bằng Việt đã thật sự chạm tới trái tim người đọc qua từng câu, từng chữ của mình.
Phân tích khổ 4 của bài thơ Bếp lửa – Mẫu 2
Chiến tranh mang lại cho con người ta sự ám ảnh mỗi lúc nghĩ đến. Nó làm cho bao lăm gia đình phải chịu sự chia cắt, bao lăm gian truân gánh nặng lên vai người đi, đứa ở lại. Có người nào đã trải đời qua những 5 tháng chiến tranh mới biết trân trọng sự bình an. Và Bằng Việt là 1 thi sĩ đã có 1 tuổi thơ tương tự, tuổi thơ sống trong chiến tranh phải sống xa bác mẹ, chiến tranh bắt người bà dấu yêu của ông phải 1 mình phụ trách trọng trách chăm lo cho người cháu. Cũng nhờ ấy nhưng với ông bao lăm kỷ niệm gắn với tuổi thơ bên bà đã giúp ông sáng tác hợp công bài thơ Bếp lửa. Bài thơ được viết trong vòng thời kì ông xa nhà, ở 1 non sông xa xăm, nơi nhưng người ta dễ hoài niệm và nhớ về dĩ vãng.
Ở bếp lửa, người đọc thấy được độc nhất vô nhị bao trùm bài thơ ấy là tình mến thương, đùm bọc vô bến bờ của người bà dành cho đứa cháu của mình. Qua những 5 tháng chiến tranh bác mẹ xa nhà, ông được sống với bà, được nhận những tình cảm toàn vẹn.
Bao nhiêu kỷ niệm về chiến tranh, về người bà bền chí, vững vàng hiện về trong tâm não ông:
“5 giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi………..Cứ bảo nhà vẫn được bình an!.”
Đứa cháu phệ dần, cuộc sống gian truân hơn trước song nghị lực của bà vẫn vững bền, tấm lòng của bà vẫn nhân từ mênh mông. Lời người bà dặn cháu thật nôm na mà chân thật và cảm động. “Bố ở chiến khu bố còn việc bố-Mày có viết thư chớ kể này kể nọ-Cứ bảo nhà vẫn được bình an”. Gian khổ thiếu thốn và nhớ nhung cần phải che lấp cho con người đi xa được yên lòng. Tấm lòng người bà thương con, thương cháu quan tâm tỷ mỉ biết bao. Ấy cũng chính là phẩm giá của người nữ giới Việt Nam ta từ muôn đời, luôn dũng cảm, khả năng và rắn rỏi trước nỗi đau của dân tộc, hy sinh tình riêng đặt tình chung lên trên. Ấy không hề là bộc lộ cao nhất của tình yêu quê hương non sông ấy ư.
Chiến tranh là 1 danh từ tầm thường, mà đằng sau nó lại là 1 quang cảnh đầy mùi máu tanh, chiến tranh khiến biết bao con người hy sinh, gây ra đau buồn cho bao người và 2 bà cháu trong bài thơ này cũng là 1 nạn nhân của chiến tranh. Gia đình bị chia cắt, nhà bị giặc đốt cháy rụi,… khi này đây hình ảnh người bà hiện lên thật thiêng liêng thật đẹp với tấm lòng hy sinh cao cả.
Phân tích khổ 4 của bài thơ Bếp lửa – Mẫu 3
Bằng Việt là thi sĩ trưởng thành trong thời gian kháng chiến chống Mĩ cứu nước.Thơ ông toát lên vẻ đẹp trắng trong mượt nhưng “như những bức tranh lụa”; rất đượm đà và thâm thúy lúc viết về những kỉ niệm tuổi thơ dại, tuổi học sinh, tình cảm gia đình… Bài thơ “Bếp lửa” là 1 trong các bài thơ hay nhất, điển hình nhất cho đặc điểm thơ, cá tính nghệ thuật và sự nghiệp cầm bút của ông.
Qua bài thơ người đọc cảm thu được tình cảm bà cháu bình dị, thâm thúy, cảm động và hết mực thiêng liêng, rất đáng trân trọng. Mạch xúc cảm của bài thơ đi từ hồi ức tới hiện nay, từ kỉ niệm tới suy ngẫm. Điều ấy được gợi ra qua hình ảnh bếp lửa quê hương và hình ảnh người bà. Từ ấy nhưng người cháu (chính là Bằng Việt) biểu lộ nỗi nhớ về những kỉ niệm thời thơ dại và được sống trong sự mến thương, chăm nom của bà.
Trong những 5 non sông có chiến tranh, những gian truân, tàn khốc, biết bao lăm đau thương mất mát vẫn luôn in sâu trong tâm não của người cháu. Và có 1 kỉ niệm trong hồi tưởng nhưng người cháu chẳng bao giờ quên được dù đã phệ khôn:
5 giặc đốt làng cháy tàn cháy rụiHàng xóm 4 bên trở về lầm lụiĐỡ đần bà dựng lại túp lều tranhVẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,Cứ bảo nhà vẫn được bình an!”
Nỗi khổ sở, đớn đau lúc giặc giã kéo về làng phá hủy, thiêu hủy nhà cửa, thôn ấp, bà vẫn lặng thầm chịu đựng, tự gắng gượng gập đứng lên chống đỡ nhờ sự đùm bọc, tương trợ của dân làng. Bà ko muốn người con ở chiến khu biết được việc ở nhà nhưng tác động tới công tác trong quân ngũ. Ấy phải chẳng là phẩm giá cao quý của những người mẹ Việt Nam người hùng trong chiến tranh. Ta đọc ở đây sự hy sinh lặng lẽ, cao cả và thiêng liêng của người bà, người mẹ ở hậu phương luôn muốn phụ trách cùng con cháu, cùng non sông để đánh đuổi giặc giã đánh chiếm, mang đến bầu trời tự do cho dân tộc. Lời căn dặn của người bà vẫn được cháu “đinh ninh” nhớ mãi trong lòng, được trích nguyên văn được nhắc lại trực tiếp lúc người cháu viết thư cho bố càng cho thấy phẩm giá đáng quý biết bao của người bà. Vì vậy, tới đây ta mới thấy được hết tất cả công huân lớn phệ của người mẹ Việt Nam đối với cuộc kháng chiến chống quân xâm lăng. Có được chiến thắng đấy ko chỉ là sự đóng góp trực tiếp của những người lính trên trận mạc tiền phương nhưng còn có cả sự đóng góp phệ lao của những người nữ giới ở hậu phương.
Sự bền chí, vững vàng của người bà đã nuôi ông phệ, đã cho ông có 1 tuổi thơ thấm đậm tình thương. Qua khổ thơ càng khẳng định cho những người anh em trên mọi miền 5 châu thấy được lòng kiên cường, hiên ngang quật cường của những người con đất Việt. Dù chiến tranh, dù tuổi tác cũng ko làm ý chí con người bị lung lay.
Phân tích khổ 4 của bài thơ Bếp lửa – Mẫu 4
Nhà thơ Bằng Việt có 1 người bà, người nhưng suốt bao lăm tháng 5 tuổi thơ đã cùng ông phệ lên, người đã thổi vào tâm hồn gần gũi, giúp ông hiểu thế nào là sự hàm ân, khâm phục và là người đã tạo lập lên cho ông có 1 tuổi thơ chẳng thể nào quên trong những 5 tháng chiến tranh. Chính thành ra nhưng bài thơ Bếp lửa được có mặt trên thị trường, 1 bài thơ ông viết để dành riêng cho người bà mến yêu của mình.
Du học ở 1 non sông xa xăm, nó làm cho ông nhớ lại những kỷ niệm chẳng thể xóa mờ của 1 tuổi thơ đầy gian truân, nặng nhọc, khoảng thời kì nhưng ông được nhận tình mến thương bao bọc của người bà của mình. Khi lẻ loi người ta thường hoài niệm, nó hiện về trong ông, về người cháu trong bài thơ.
Kỷ niệm cũ như những thước phim thời thơ dại tràn về trong tâm khảm của người cháu:
“5 giặc đốt làng cháy tàn rụiHàng xóm 4 bên trở về lầm lụiĐỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”.
Chiến tranh. Chỉ cần nói đến 2 chữ đấy thôi, người nào trong chúng ta cũng đều liên tưởng tới tính thảm khốc, gian ác nhưng nó đem lại cho dân tộc. Nó đã gây ra bao đau thương, mất mát cho bao người, bao gia đình. Hai bà cháu trong bài thơ cũng ko ngoại lệ: gia đình bị chia cắt, nhà cửa bị đốt “cháy tàn cháy rụi”. Những khi tương tự, duy chỉ có tình thôn xóm, tình cảm giữa những con người cùng khổ, những con người cùng thấm thía được nỗi đau thương của chiến tranh, là ko bị hủy diệt. Họ đỡ đần nhau, đùm bọc nhau, cùng nhau vượt qua những tháng ngày gian khó, khó nhọc.
Và trong tình cảnh này, hình ảnh người bà hiện lên thật đẹp với tấm lòng hy sinh cao cả. Nỗi khổ vì nhà của bị giặc phá hủy, bà lặng thầm chịu đựng. Từ “lầm lũi” diễn tả rất xúc động hình ảnh bà thầm lặng hôm sớm, muốn san sẻ, phụ trách cùng con cháu những toan lo khó nhọc, mệt nhọc.
Bà vẫn chịu thương cần mẫn, hặm hụi làm việc chỉ vì ko muốn con mình ở chiến khu phải lo âu cho gia đình:
“Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,Cứ bảo nhà vẫn được bình an!”
Lời người bà dặn cháu thật nôm na mà chân thật và cảm động. Nỗi khổ giặc phá thôn xóm, nỗi khó nhọc, thiếu thốn, bà lặng thầm chịu đựng. Chỉ mong sao con mình ở nơi tiền phương xa xăm luôn yên lòng để bảo vệ mảnh đất quê hương. Lời căn dặn giản dị đấy ko chỉ giúp hiểu thêm về tấm lòng, về tình thương cảm con, thương cháu của người bà, nhưng còn gián tiếp đề cao những phẩm giá cao quý của bà: tĩnh tâm, vững lòng, làm tròn nhiệm vụ hậu phương để yên lòng người đi công việc.
Đức hy sinh, tảo tần; sự kiên nhẫn, kiên cường trụ thật vững trong lòng bà tới cảm động! Cháu nhớ tới bà, nghĩ về bà và cảm thu được rằng: bà đang hiện diện bên mình. Lời bà mến thương, ấm lòng cứ như vang vọng bên tai… Làm sao cháu có thể quên?

TagsBằng Việt Bếp lửa Văn mẫu lớp 9

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #khổ #bài #thơ #Bếp #lửa

Analisis rangkap 4 puisi Dapur Api oleh Bang Viet membawakan rangka terperinci, bersama-sama dengan 4 contoh esei, untuk membantu pelajar gred 9 merujuk dan mengukuhkan perbendaharaan kata mereka untuk menulis esei analisis yang lebih baik. Berkat itu, pembelajaran Sastera 9 lebih baik dan lebih baik.

Rangkap keempat dalam sajak Api Tungku membantu kita merasakan secara mendalam tentang imej kampung yang terbiar dalam asap dan api peperangan. Pada masa yang sama, turut memuji kecantikan jiwa seorang wanita yang kaya dengan sifat tidak mementingkan diri dan pengorbanan. Sila ikuti artikel Data Besar berikut:

Analisis rangka rangkap 4 pantun Api dapur

1. Pembukaan pelajaran:

– Mengenai pengarang, karya:

  • Bang Viet tergolong dalam generasi penyair yang dibesarkan dalam gerakan penentangan anti-Amerika. Puisinya jelas dan lancar, mengeksploitasi kenangan indah dan impian masa muda.
  • Puisi “Dapur api” dikarang pada tahun 1963 ketika pengarangnya adalah pelajar antarabangsa di Kesatuan Soviet.
  • Pengenalan kepada petikan: rangkap 4 pantun

2. Isi artikel:

Yang tertinggal dalam ingatan cucu ialah (ayat 4):

  • Ungkapan “terbakar dan terbakar”: memberikan perasaan imej sebuah kampung yang terbiar dalam asap dan api peperangan. Berlatarbelakangkan kemusnahan itu ialah penjagaan dan sokongan kampung terhadap mereka berdua.Apa yang paling menyentuh hati saya ialah wanita tua dan kecil itu sendirian telah bersusah payah melaluinya.kepayahan dan penderitaan tanpa mengeluh atau mengeluh. Dia tabah dan tabah menghadapi realiti yang pahit.Terutama nasihat cucunya telah menceriakan keindahan jiwa seorang wanita yang kaya dengan sifat tidak mementingkan diri dan pengorbanan.
  • Dia bukan sahaja sokongan untuk cucu-cucunya, tumpu kepada anak-anak yang sedang berjuang, tetapi juga belakang yang kukuh untuk seluruh barisan hadapan, memberikan sumbangan besar kepada penentangan bersama negara. Kasih nenek berbaur cinta pada ibu pertiwi.

3. Kesimpulan:

  • Merapatkan hubungan kekeluargaan adalah asas yang kukuh untuk cintakan tanah air

Cerakinkan rangkap ke-4 sajak Dapur Api – Model 1

Bang Viet telah menulis puisi sejak awal 1960-an dan tergolong dalam generasi penyair yang membesar semasa perang penentangan anti-Amerika. Puisi Bang Viet, emosi yang halus, mempunyai suara yang tenang, kaya dengan pemikiran dan falsafah. Puisi “Dapur api” adalah puisinya yang sangat baik, yang dikarang pada tahun 1963, ketika dia seorang pelajar di fakulti undang-undang Universiti Kiev. Melalui ingatan dan renungan cucu yang sudah dewasa, puisi “Dapur Api” membangkitkan kenangan penuh kasih sayang seorang nenek dan cucu, dan pada masa yang sama menyatakan rasa hormat, hormat dan terima kasih cucu. untuknya dan juga untuk keluarganya dan negara.

Dikatakan bahawa seseorang boleh memisahkan orang dari tanah airnya tetapi tidak boleh memisahkan tanah air daripada orang Sesungguhnya. Ke mana sahaja mereka pergi, semua orang mengingati tanah air mereka, mengenang kenangan yang pernah menghangatkan hati orang ramai, adalah tunjang rohani untuk bangkit melawan kesusahan.

Imej kebakaran itu telah mencetuskan ingatan cucunya tentang neneknya dan kebakaran di kampung halamannya. Litar emosi puisi itu sangat semula jadi, dari ingatan kepada masa kini, dari ingatan kepada perenungan: imej dapur api membangkitkan kenangan zaman kanak-kanak hidup bersamanya selama lapan tahun, mendedahkan imejnya dengan betapa banyak kerja keras dan kasih sayang. untuk cucu; Dari ingatan, cucu itu kini telah berkembang untuk merenung dan memahami kehidupannya, tentang kehidupannya yang sederhana tetapi mulia; Akhirnya, cucu ingin menghantar rindunya kepada kamu.

Dalam rangkap keempat, adegan perang menjadi lebih dahsyat, apabila musuh membakar kampung, tidak meninggalkan apa-apa selain abu. Kenangan tentangnya berkembang, secara beransur-ansur menyebar ke nostalgia untuk kampung dan negara:

“Lima musuh membakar kampung, membakarnya, membakarnya
Jiran-jiran di empat pihak kembali secara silap
Bantu dia membina semula pondok jerami
Masih yakin, dia memberitahu cucunya dengan tegas:
Saya dalam zon perang saya masih ada kerja untuk dilakukan
Awak tulis surat, jangan beritahu ini dan itu
Katakan saja rumah itu masih aman!”

Peperangan telah menyebabkan banyak kerugian dan kesakitan, tetapi adalah mustahil untuk memadamkan cinta kampung dan jiran. Pada hari-hari jauh dari rumah, kenangan jiran-jiran yang dihormati yang melalui semua tahun peperangan dengan nenek dan cucu perempuan saya muncul di fikiran saya satu demi satu. Nasihat “Kamu tulis surat, jangan beritahu ini / Katakan saja rumah masih aman!” menunjukkan imej seorang wanita yang rajin dan penyayang. Dalam apa jua keadaan, dia masih tabah untuk menjadi tunjang kerohanian anak saudaranya, sebagai tulang belakang yang kukuh untuk anaknya berjuang di medan perang.

Bukan kebetulan bahawa sejak kelahirannya sehingga hari ini, “Kompor Api” sentiasa mempunyai tempatnya sendiri. Dengan imej yang benar dan semua perasaan yang ikhlas, Bang Viet benar-benar menyentuh hati pembaca melalui setiap ayat dan kata-katanya.

Cerakinkan rangkap ke-4 pantun Dapur Api – Model 2

Perang memberi orang obsesi setiap kali mereka memikirkannya. Ia menyebabkan banyak keluarga mengalami perpisahan, begitu banyak kesusahan dan beban di bahu mereka yang pergi dan mereka yang tinggal. Yang telah melalui perang bertahun-tahun untuk menghargai keamanan. Dan Bang Viet adalah seorang penyair yang mempunyai zaman kanak-kanak seperti itu, zaman kanak-kanak yang hidup dalam peperangan terpaksa hidup berjauhan dengan ibu bapanya, perang memaksa nenek tercintanya untuk memikul tanggungjawab menjaga anak saudaranya seorang diri. Terima kasih kepada itu, bersamanya banyak kenangan yang berkaitan dengan zaman kanak-kanaknya dengannya membantunya untuk berjaya mengarang puisi Api Api. Puisi itu ditulis semasa dia jauh dari rumah, di negara yang jauh, di mana ia mudah untuk nostalgia dan mengingati masa lalu.

Pada kebakaran itu, pembaca dapat melihat bahawa satu-satunya perkara yang merangkumi puisi itu adalah kasih sayang dan penjagaan nenek yang tidak terhingga kepada cucunya. Sepanjang tahun perang ketika ibu bapanya tiada di rumah, dia dapat tinggal bersamanya dan menerima kasih sayang sepenuhnya.

Berapa banyak kenangan tentang perang, tentang nenek yang tabah dan tabah muncul dalam fikirannya:

“Lima musuh membakar kampung, membakarnya, membakarnya
………….
Katakan saja rumah itu masih aman!”

Cucunya membesar, hidup lebih sukar daripada sebelumnya, tetapi tenaganya masih kuat, hatinya masih sangat besar. Kata-kata nenek kepada cucunya ringkas tetapi benar dan menyentuh perasaan. “Ayah berada di zon perang, tetapi jika kamu menulis surat, jangan beritahu saya tentang hal itu-Cuma beritahu saya rumah masih aman.” Kemiskinan dan kerinduan perlu disembunyikan agar orang yang jauh dapat ketenangan jiwa. Hati seorang nenek yang menyayangi anak, menyayangi cucunya, begitu mengambil berat. Itulah juga kualiti wanita Vietnam selama-lamanya, sentiasa berani, berani dan tabah menghadapi derita negara, mengorbankan cinta mereka sendiri untuk meletakkan cinta bersama mengatasi segalanya. Bukankah itu ungkapan cinta yang paling tinggi terhadap negara tersebut?

Peperangan adalah kata nama biasa, tetapi di sebaliknya adalah adegan yang penuh dengan bau darah, peperangan menyebabkan ramai orang berkorban, menyebabkan banyak orang menderita dan kedua-dua cucu dalam pantun ini turut menjadi mangsa peperangan. Keluarga berpecah belah, rumah dibakar musuh.. ketika ini, imej nenek kelihatan sangat suci dan cantik dengan pengorbanan yang besar.

Cerakinkan rangkap ke-4 sajak Dapur Api – Model 3

Bang Viet ialah seorang penyair dewasa semasa perang penentangan menentang Amerika untuk menyelamatkan negara. Puisinya memancarkan keindahan tulen dan licin “seperti lukisan sutera”; sangat ghairah dan mendalam apabila menulis tentang kenangan zaman kanak-kanak, zaman persekolahan, cinta keluarga… Puisi “Dapur api” adalah salah satu puisi terbaik, paling tipikal untuk ciri dan gaya puisi. kerjaya seni dan penulisannya.

Melalui puisi itu, pembaca dapat merasakan yang ringkas, mendalam, menyentuh hati, dan sangat suci, serta patut dihormati. Litar emosi puisi itu pergi dari ingatan kepada masa kini, dari ingatan kepada perenungan. Itu dicadangkan melalui imej tungku kampung halaman dan imej nenek. Sejak itu, cucunya (iaitu Bang Viet) meluahkan nostalgianya pada kenangan zaman kanak-kanak dan hidup dalam kasih sayang dan penjagaan neneknya.

Selama bertahun-tahun peperangan negara, kesukaran, keganasan, dan begitu banyak kesakitan dan kehilangan sentiasa terpahat dalam minda anak cucu. Dan ada satu ingatan dalam ingatan yang tidak dapat dilupakan oleh cucu walaupun sudah dewasa:

Tahun musuh membakar kampung dan membakarnya
Jiran-jiran di empat pihak kembali secara silap
Bantu dia membina semula pondok jerami
Masih teguh, dia memberitahu saya untuk memastikan
“Saya berada di zon perang, saya ada kerja yang perlu dilakukan, ayah,
Jika anda menulis surat, jangan beritahu saya ini, beritahu itu,
Katakan saja rumah itu masih aman!”

Penderitaan dan kesakitan apabila musuh berundur ke kampung untuk memusnahkan dan memusnahkan rumah-rumah dan kampung-kampung, dia masih bertahan dalam diam, cuba bangkit dengan bantuan dan sokongan penduduk kampung. Dia tidak mahu anaknya di zon perang tahu bahawa kerja di rumah menjejaskan kerjanya dalam tentera. Itu bukanlah sifat mulia ibu hero Vietnam semasa perang. Di sini kita terbaca pengorbanan senyap, mulia dan suci nenek, ibu di belakang yang sentiasa mahu memikul anak cucu, bersama negara melawan penjajah, membawa kebebasan kepada dunia.etnik. Nasihat nenek itu masih “ditentukan” oleh cucu selama-lamanya di dalam hatinya, dipetik secara verbatim dan diulang terus apabila cucu menulis surat kepada bapanya, menunjukkan betapa berharganya sifat nenek itu. Oleh itu, di sini kita dapat melihat semua jasa besar ibu Vietnam untuk perang penentangan terhadap penceroboh. Kemenangan itu bukan sahaja sumbangan langsung askar di barisan hadapan, tetapi juga sumbangan besar wanita di belakang.

Ketabahan dan ketabahan nenek yang membesarkannya memberikannya zaman kanak-kanak yang dijiwai dengan kasih sayang. Menerusi rangkap itu, ia seterusnya menegaskan agar saudara di seluruh wilayah lima benua melihat keteguhan dan ketabahan rakyat Vietnam. Perang, walaupun usia, tidak akan menggoyahkan kehendak orang.

Cerakinkan rangkap ke-4 sajak Dapur Api – Model 4

Penyair Bang Viet mempunyai seorang nenek, dengan siapa dia dibesarkan selama bertahun-tahun zaman kanak-kanaknya, yang menghembuskan jiwa yang mesra, membantunya memahami apa itu rasa syukur, kekaguman dan penciptaan. memberinya zaman kanak-kanak yang tidak dapat dilupakan semasa tahun perang. Maka lahirlah puisi Tungku Api, puisi yang ditulisnya didedikasikan untuk nenek tercinta.

Belajar di luar negara di negara yang jauh, ia mengingatkannya kepada kenangan yang tidak dapat dilupakan di zaman kanak-kanak yang penuh dengan kepayahan dan kepayahan, ketika dia menerima kasih sayang dan kasih sayang neneknya. . Apabila orang sunyi, orang sering nostalgia, ia muncul pada datuk, tentang anak saudara dalam puisi.

Kenangan lama seperti filem zaman kanak-kanak membanjiri fikiran cucu:

“Lima musuh membakar kampung dan membakarnya
Jiran-jiran di empat pihak kembali secara silap
Bantu dia membina semula pondok jerami itu.”

Perang. Sebut sahaja dua perkataan itu, kita semua memikirkan keganasan dan kekejaman yang dibawanya kepada negara. Ia telah menyebabkan banyak kesakitan dan kehilangan kepada ramai orang dan keluarga. Kedua-dua datuk nenek dalam puisi itu tidak terkecuali: keluarga berpecah, rumah itu “dibakar dan dibakar”. Pada waktu sebegitu, hanya cinta kampung, cinta antara rakyat yang menderita, rakyat yang dapat memahami keperitan peperangan, tidak musnah. Mereka saling membantu, menjaga antara satu sama lain, melalui masa susah bersama.

Dan dalam situasi ini, imej seorang nenek kelihatan cantik dengan pengorbanan yang besar. Menderita kerana rumahnya dimusnahkan oleh musuh, dia bertahan dengan senyap. Perkataan “sesat” menggambarkan dengan sangat menyentuh imejnya diam-diam pada awal pagi, ingin berkongsi dan memikul kesusahan dan kerisauan dengan anak dan cucunya.

Dia masih menderita, bekerja keras hanya kerana dia tidak mahu anak-anaknya di zon perang perlu risau tentang keluarga mereka:

“Masih kuat, dia memberitahu saya untuk memastikan:
Saya berada di zon perang, saya masih ada kerja yang perlu dilakukan,
Jika anda menulis surat, jangan beritahu saya ini, beritahu itu,
Katakan saja rumah itu masih aman!”

Kata-kata nenek kepada cucunya ringkas tetapi benar dan menyentuh perasaan. Penderitaan musuh memusnahkan kampung, kesusahan dan kekurangan, dia diam menanggungnya. Saya hanya berharap anak-anak saya di tempat terpencil barisan hadapan sentiasa berasa selamat untuk melindungi tanah air mereka. Nasihat mudah itu bukan sahaja membantu untuk memahami lebih lanjut tentang hati seorang nenek, kasih sayangnya terhadap anak-anak dan cucu-cucunya, tetapi juga secara tidak langsung meningkatkan sifat-sifat mulianya: ketenangan, keyakinan, memenuhi tugasnya. perkhidmatan belakang untuk meyakinkan pelancong perniagaan.

Pengorbanan Jerman, rajin; kesabaran dan ketabahannya berdiri teguh di hati hingga tersentuh! Saya fikir dia, fikir dia dan rasa dia ada bersama saya. Kata-katanya yang penuh kasih sayang dan menyentuh hati seolah-olah bergema di telinga saya… Bagaimana saya boleh lupa?

.


Thông tin thêm về Văn mẫu lớp 9: Phân tích khổ 4 bài thơ Bếp lửa

Phân tích khổ 4 bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt mang đến dàn ý cụ thể, cùng 4 bài văn mẫu, giúp các em học trò lớp 9 tham khảo, củng cố vốn từ để viết bài văn phân tách hay hơn. Nhờ ấy, càng ngày càng học tốt môn Văn 9 hơn.

Khổ thơ thứ 4 trong bài thơ Bếp lửa, giúp chúng ta cảm nhận thâm thúy về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Cùng lúc, cũng ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của người nữ giới giàu lòng vị tha, đức hi sinh. Mời các em cùng theo dõi bài viết dưới đây của Xgame:
Dàn ý phân tách khổ 4 bài thơ Bếp lửa
1. Mở bài:
– Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

Bằng Việt thuộc lứa tuổi thi sĩ trưởng thành trong phong trào kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông trong trẻo, mượt nhưng, khai thác những kỉ niệm đẹp và ước mong tuổi xanh.
Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác 5 1963 lúc tác giả là du học trò Liên Xô.
Giới thiệu đoạn trích: khổ 4 bài thơ

2. Thân bài:
Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu là (đoạn thơ 4):

Thành ngữ “cháy tàn cháy rụi”: đem lại cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Trên cái nền của sự tàn tàn phá diệt đấy là sự nuôi nấng, đùm bọc của thôn ấp đối với 2 bà cháu.Điều khiến cháu xúc động nhất là 1 mình bà già nua, bé nhỏ đã đương đầu để trải qua những 5 tháng gieo neo, đau buồn nhưng chẳng phải phàn nàn, ca cẩm. Bà mạnh bạo,bền chí trước hiện thực tàn khốc.Đặc trưng là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người nữ giới giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh.
Bà ko chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang tranh đấu nhưng còn là hậu phương chắc chắn cho cả tiền phương, góp phần ko bé vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Tình cảm bà cháu hòa quyện trong tình yêu quê hương, Quốc gia.

3. Kết bài:

Kết lại tình cảm gia đình là cơ sở chắc chắn để làm nền móng cho tình yêu quê hương non sông

Phân tích khổ 4 của bài thơ Bếp lửa – Mẫu 1
Bằng Việt làm thư từ đầu những 5 1960 và thuộc lứa tuổi các thi sĩ trưởng thành trong thời gian kháng chiến chống Mĩ. Thơ Bằng Việt, xúc cảm tinh tế, có giọng điệu tâm tĩnh trầm lắng, giàu suy tư, triết luận. Bài thơ “Bếp lửa” là bài thơ hoàn hảo của ông, được sáng tác 5 1963, lúc là sinh viên khoa pháp lí trường Đại học tổng hợp Ki-ép. Qua hồi ức, suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, cùng lúc trình bày lòng mến yêu trân trọng và hàm ân của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương non sông.
Có người nói người ta có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ chẳng thể tách quê hương ra khỏi con người Thật vậy. Dù đi đâu, ở đâu, người nào cũng nhớ về quê hương, nhớ về những kỉ niệm đã từng làm ấm lòng người, là điểm tựa ý thức để vươn lên nghịch cảnh.
Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng xúc cảm hồi ức của người cháu về người bà và bếp lửa quê hương. Mạch xúc cảm của bài thơ rất thiên nhiên, đi từ hồi ức tới hiện nay, từ kỉ niệm tới suy ngẫm: hình ảnh bếp lửa gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà 8 5 ròng, làm hiện lên hình ảnh bà với bao khó nhọc và tình mến thương trìu mến dành cho đứa cháu; từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà, về lẽ sống giản dị nhưng cao quý của bà; rốt cục, người cháu muốn gửi niềm nhớ mong về bà.
Ở khổ thơ thứ 4, quang cảnh chiến tranh phát triển thành kinh khủng hơn, lúc giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi, để trơ khấc lại chỉ là những mảnh tro tàn. Những ký ức về bà phệ dần, phệ dần lan tỏa sang cả nỗi nhớ làng quê, nhớ non sông:
“5 giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Láng giềng 4 bên trở về lầm lũi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh: Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình an!”
Chiến tranh đã gây ra bao mất mát, đau thương mà chẳng thể nào xóa nhòa được tình làng, nghĩa xóm. Trong những ngày tháng xa quê những ký ức về những người thôn xóm đáng kính đã cùng 2 bà cháu đi qua hết những 5 tháng chiến tranh đang tuần tự hiện về trong tâm não của cháu. Lời căn dặn “Mày viết thư chớ kể này kể nọ/ Cứ bảo nhà vẫn được bình an!” cho thấy hình ảnh của 1 người nữ giới tảo tần, giàu tình thương. Dẫu trong tình cảnh nào bà vẫn bền chí để làm điểm tựa ý thức cho người cháu, làm hậu phương chắc chắn cho người con tranh đấu ngoài mặt trận….
Không phải trùng hợp nhưng ngay bắt đầu từ vừa mới có mặt trên thị trường cho tới tận bữa nay “Bếp lửa” vẫn luôn có chỗ đứng riêng của nó. Bằng những hình ảnh chân thật cùng tất cả tình cảm chân tình Bằng Việt đã thật sự chạm tới trái tim người đọc qua từng câu, từng chữ của mình.
Phân tích khổ 4 của bài thơ Bếp lửa – Mẫu 2
Chiến tranh mang lại cho con người ta sự ám ảnh mỗi lúc nghĩ đến. Nó làm cho bao lăm gia đình phải chịu sự chia cắt, bao lăm gian truân gánh nặng lên vai người đi, đứa ở lại. Có người nào đã trải đời qua những 5 tháng chiến tranh mới biết trân trọng sự bình an. Và Bằng Việt là 1 thi sĩ đã có 1 tuổi thơ tương tự, tuổi thơ sống trong chiến tranh phải sống xa bác mẹ, chiến tranh bắt người bà dấu yêu của ông phải 1 mình phụ trách trọng trách chăm lo cho người cháu. Cũng nhờ ấy nhưng với ông bao lăm kỷ niệm gắn với tuổi thơ bên bà đã giúp ông sáng tác hợp công bài thơ Bếp lửa. Bài thơ được viết trong vòng thời kì ông xa nhà, ở 1 non sông xa xăm, nơi nhưng người ta dễ hoài niệm và nhớ về dĩ vãng.
Ở bếp lửa, người đọc thấy được độc nhất vô nhị bao trùm bài thơ ấy là tình mến thương, đùm bọc vô bến bờ của người bà dành cho đứa cháu của mình. Qua những 5 tháng chiến tranh bác mẹ xa nhà, ông được sống với bà, được nhận những tình cảm toàn vẹn.
Bao nhiêu kỷ niệm về chiến tranh, về người bà bền chí, vững vàng hiện về trong tâm não ông:
“5 giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi………..Cứ bảo nhà vẫn được bình an!.”
Đứa cháu phệ dần, cuộc sống gian truân hơn trước song nghị lực của bà vẫn vững bền, tấm lòng của bà vẫn nhân từ mênh mông. Lời người bà dặn cháu thật nôm na mà chân thật và cảm động. “Bố ở chiến khu bố còn việc bố-Mày có viết thư chớ kể này kể nọ-Cứ bảo nhà vẫn được bình an”. Gian khổ thiếu thốn và nhớ nhung cần phải che lấp cho con người đi xa được yên lòng. Tấm lòng người bà thương con, thương cháu quan tâm tỷ mỉ biết bao. Ấy cũng chính là phẩm giá của người nữ giới Việt Nam ta từ muôn đời, luôn dũng cảm, khả năng và rắn rỏi trước nỗi đau của dân tộc, hy sinh tình riêng đặt tình chung lên trên. Ấy không hề là bộc lộ cao nhất của tình yêu quê hương non sông ấy ư.
Chiến tranh là 1 danh từ tầm thường, mà đằng sau nó lại là 1 quang cảnh đầy mùi máu tanh, chiến tranh khiến biết bao con người hy sinh, gây ra đau buồn cho bao người và 2 bà cháu trong bài thơ này cũng là 1 nạn nhân của chiến tranh. Gia đình bị chia cắt, nhà bị giặc đốt cháy rụi,… khi này đây hình ảnh người bà hiện lên thật thiêng liêng thật đẹp với tấm lòng hy sinh cao cả.
Phân tích khổ 4 của bài thơ Bếp lửa – Mẫu 3
Bằng Việt là thi sĩ trưởng thành trong thời gian kháng chiến chống Mĩ cứu nước.Thơ ông toát lên vẻ đẹp trắng trong mượt nhưng “như những bức tranh lụa”; rất đượm đà và thâm thúy lúc viết về những kỉ niệm tuổi thơ dại, tuổi học sinh, tình cảm gia đình… Bài thơ “Bếp lửa” là 1 trong các bài thơ hay nhất, điển hình nhất cho đặc điểm thơ, cá tính nghệ thuật và sự nghiệp cầm bút của ông.
Qua bài thơ người đọc cảm thu được tình cảm bà cháu bình dị, thâm thúy, cảm động và hết mực thiêng liêng, rất đáng trân trọng. Mạch xúc cảm của bài thơ đi từ hồi ức tới hiện nay, từ kỉ niệm tới suy ngẫm. Điều ấy được gợi ra qua hình ảnh bếp lửa quê hương và hình ảnh người bà. Từ ấy nhưng người cháu (chính là Bằng Việt) biểu lộ nỗi nhớ về những kỉ niệm thời thơ dại và được sống trong sự mến thương, chăm nom của bà.
Trong những 5 non sông có chiến tranh, những gian truân, tàn khốc, biết bao lăm đau thương mất mát vẫn luôn in sâu trong tâm não của người cháu. Và có 1 kỉ niệm trong hồi tưởng nhưng người cháu chẳng bao giờ quên được dù đã phệ khôn:
5 giặc đốt làng cháy tàn cháy rụiHàng xóm 4 bên trở về lầm lụiĐỡ đần bà dựng lại túp lều tranhVẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,Cứ bảo nhà vẫn được bình an!”
Nỗi khổ sở, đớn đau lúc giặc giã kéo về làng phá hủy, thiêu hủy nhà cửa, thôn ấp, bà vẫn lặng thầm chịu đựng, tự gắng gượng gập đứng lên chống đỡ nhờ sự đùm bọc, tương trợ của dân làng. Bà ko muốn người con ở chiến khu biết được việc ở nhà nhưng tác động tới công tác trong quân ngũ. Ấy phải chẳng là phẩm giá cao quý của những người mẹ Việt Nam người hùng trong chiến tranh. Ta đọc ở đây sự hy sinh lặng lẽ, cao cả và thiêng liêng của người bà, người mẹ ở hậu phương luôn muốn phụ trách cùng con cháu, cùng non sông để đánh đuổi giặc giã đánh chiếm, mang đến bầu trời tự do cho dân tộc. Lời căn dặn của người bà vẫn được cháu “đinh ninh” nhớ mãi trong lòng, được trích nguyên văn được nhắc lại trực tiếp lúc người cháu viết thư cho bố càng cho thấy phẩm giá đáng quý biết bao của người bà. Vì vậy, tới đây ta mới thấy được hết tất cả công huân lớn phệ của người mẹ Việt Nam đối với cuộc kháng chiến chống quân xâm lăng. Có được chiến thắng đấy ko chỉ là sự đóng góp trực tiếp của những người lính trên trận mạc tiền phương nhưng còn có cả sự đóng góp phệ lao của những người nữ giới ở hậu phương.
Sự bền chí, vững vàng của người bà đã nuôi ông phệ, đã cho ông có 1 tuổi thơ thấm đậm tình thương. Qua khổ thơ càng khẳng định cho những người anh em trên mọi miền 5 châu thấy được lòng kiên cường, hiên ngang quật cường của những người con đất Việt. Dù chiến tranh, dù tuổi tác cũng ko làm ý chí con người bị lung lay.
Phân tích khổ 4 của bài thơ Bếp lửa – Mẫu 4
Nhà thơ Bằng Việt có 1 người bà, người nhưng suốt bao lăm tháng 5 tuổi thơ đã cùng ông phệ lên, người đã thổi vào tâm hồn gần gũi, giúp ông hiểu thế nào là sự hàm ân, khâm phục và là người đã tạo lập lên cho ông có 1 tuổi thơ chẳng thể nào quên trong những 5 tháng chiến tranh. Chính thành ra nhưng bài thơ Bếp lửa được có mặt trên thị trường, 1 bài thơ ông viết để dành riêng cho người bà mến yêu của mình.
Du học ở 1 non sông xa xăm, nó làm cho ông nhớ lại những kỷ niệm chẳng thể xóa mờ của 1 tuổi thơ đầy gian truân, nặng nhọc, khoảng thời kì nhưng ông được nhận tình mến thương bao bọc của người bà của mình. Khi lẻ loi người ta thường hoài niệm, nó hiện về trong ông, về người cháu trong bài thơ.
Kỷ niệm cũ như những thước phim thời thơ dại tràn về trong tâm khảm của người cháu:
“5 giặc đốt làng cháy tàn rụiHàng xóm 4 bên trở về lầm lụiĐỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”.
Chiến tranh. Chỉ cần nói đến 2 chữ đấy thôi, người nào trong chúng ta cũng đều liên tưởng tới tính thảm khốc, gian ác nhưng nó đem lại cho dân tộc. Nó đã gây ra bao đau thương, mất mát cho bao người, bao gia đình. Hai bà cháu trong bài thơ cũng ko ngoại lệ: gia đình bị chia cắt, nhà cửa bị đốt “cháy tàn cháy rụi”. Những khi tương tự, duy chỉ có tình thôn xóm, tình cảm giữa những con người cùng khổ, những con người cùng thấm thía được nỗi đau thương của chiến tranh, là ko bị hủy diệt. Họ đỡ đần nhau, đùm bọc nhau, cùng nhau vượt qua những tháng ngày gian khó, khó nhọc.
Và trong tình cảnh này, hình ảnh người bà hiện lên thật đẹp với tấm lòng hy sinh cao cả. Nỗi khổ vì nhà của bị giặc phá hủy, bà lặng thầm chịu đựng. Từ “lầm lũi” diễn tả rất xúc động hình ảnh bà thầm lặng hôm sớm, muốn san sẻ, phụ trách cùng con cháu những toan lo khó nhọc, mệt nhọc.
Bà vẫn chịu thương cần mẫn, hặm hụi làm việc chỉ vì ko muốn con mình ở chiến khu phải lo âu cho gia đình:
“Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,Cứ bảo nhà vẫn được bình an!”
Lời người bà dặn cháu thật nôm na mà chân thật và cảm động. Nỗi khổ giặc phá thôn xóm, nỗi khó nhọc, thiếu thốn, bà lặng thầm chịu đựng. Chỉ mong sao con mình ở nơi tiền phương xa xăm luôn yên lòng để bảo vệ mảnh đất quê hương. Lời căn dặn giản dị đấy ko chỉ giúp hiểu thêm về tấm lòng, về tình thương cảm con, thương cháu của người bà, nhưng còn gián tiếp đề cao những phẩm giá cao quý của bà: tĩnh tâm, vững lòng, làm tròn nhiệm vụ hậu phương để yên lòng người đi công việc.
Đức hy sinh, tảo tần; sự kiên nhẫn, kiên cường trụ thật vững trong lòng bà tới cảm động! Cháu nhớ tới bà, nghĩ về bà và cảm thu được rằng: bà đang hiện diện bên mình. Lời bà mến thương, ấm lòng cứ như vang vọng bên tai… Làm sao cháu có thể quên?

TagsBằng Việt Bếp lửa Văn mẫu lớp 9

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #khổ #bài #thơ #Bếp #lửa


  • Tổng hợp: Xgame VN
  • #Văn #mẫu #lớp #Phân #tích #khổ #bài #thơ #Bếp #lửa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button